Chính phủ điện tử

Sự phát triển của lĩnh vực Công nghệ thông tin tại Việt Nam có thể chia thành 2 giai đoạn lớn: Giai đoạn trước khi thành lập Bộ BCVT và sau khi thành lập Bộ:

Giai đoạn đầu, trước khi thành lập Bộ BCVT đã có nhiều tổ chức, hiệp hội, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này, tuy nhiên các văn bản, chính sách vẫn gần như chưa có gì. Mức độ phát triển vẫn ở giai đoạn nghiên cứu, thử nghiệm; nguồn nhân lực tự phát; nền công nghiệp phát triển được là do nhu cầu ứng dụng. Giai đoạn này là giai đoạn tự phát, phát triển theo nhu cầu và theo chủ quan của một bộ phận cán bộ lãnh đạo tâm huyết.

Giai đoạn tiếp theo, sau khi Bộ thành lập và tiếp đó Luật CNTT ra đời, hàng loạt các văn bản, chính sách được xây dựng, công tác quản lý nhà nước dần đi vào quy củ. Các chiến lược, quy hoạch, các văn bản hướng dẫn, tiêu chuẩn, quy chuẩn lần lượt ra đời và góp phần nhất định trong việc thúc đẩy CNTT tại Việt Nam. Ngành công nghiệp CNTT Việt Nam cũng đã có những bước phát triển vượt bậc dựa vào 3 yếu tố chính:

– Sự đầu tư của các doanh nghiệp FDI vào sản xuất các sản phẩm điện tử như Samsung, Intel, LG,…

– Sự lớn mạnh của doanh nghiệp phần mềm trong nước như FPT, CMC,

– Và gần đây nhất là sự phát triển của các doanh nghiệp nội dung số: VNG, VCCorp,…

Vấn đề công nghiệp CNTT sẽ được đề cập đến trong một bài viết khác. Bài viết này sẽ tập trung chủ yếu vào mảng ứng dụng CNTT và phát triển Chính phủ điện tử.

Từ khi thành lập Bộ, lĩnh vực CNTT được nghiên cứu một cách bài bản, có những concept rõ ràng, Chiến lược, Quy hoạch và Luật CNTT cùng các văn bản tiếp theo đều xoay quanh 4 trụ, 3 chủ thể. Ở giai đoạn đầu, vấn đề ƯD CNTT và CPĐT được đặc biệt quan tâm (một phần do lĩnh vực công nghiệp cũng chưa phát triển và chịu sự chi phối từ nhiều ngành khác), tuy nhiên đặc thù tại Việt Nam là Digital Gap (chênh lệch về nhận thức số) giữa các địa phương, giữa khối Doanh nghiệp và khối Nhà nước là rất lớn. Do đó việc phát triển CPĐT, thúc đẩy ƯD CNTT tập trung vào nâng cao mặt bằng chung, tăng cường nhận thức; chính vì vậy việc đầu tư đã bị dàn trải. Công tác QLNN tập trung vào việc hướng dẫn cụ thể các CQNN xác định mục tiêu, triển khai ƯD CNTT, đồng thời ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn.

Có thể đưa ra một ví dụ tương quan về QLNN trong lĩnh vực Giao thông vận tải với lĩnh vực CNTT như sau:

– Thời gian đầu, Chính phủ xác định các đường quốc lộ, tỉnh lộ nào cần được xây dựng, xác định kế hoạch triển khai; tiếp đó ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với từng loại đường, loại cầu,… Cũng đến thời điểm mà tất cả các đường quốc lộ, tỉnh lộ đều đã hình thành, nhu cầu đi lại được đáp ứng. Giai đoạn này cũng giống như trong lĩnh vực CNTT: Hầu hết các Bộ ngành, tỉnh thành đều đã có Cổng thông tin điện tử, phần mềm quản lý văn bản và hồ sơ công việc,… Tuy nhiên chất lượng, hiệu quả ra sao thì chưa thể đánh giá được.

– Giai đoạn tiếp theo, các con đường quốc lộ, tỉnh lộ theo thời gian thì xuống cấp, nhà cửa được xây dựng bám sát ven đường, hạn chế khả năng mở rộng, gây ra nhiều tai nạn giao thông, nhu cầu đi lại ngày càng lớn. Những đường quốc lộ nào không thể nâng cấp đáp ứng thì buộc phải xây dựng mới, ngân sách không đáp ứng thì buộc phải có nhiều hình thức đầu tư khác nhau như BOT,… và hiện trạng QLNN trong lĩnh vực Giao thông vận tải là như hiện nay. Bên cạnh các vấn đề QLNN truyền thống như các chính sách quy hoạch,  văn bản hướng dẫn, các định mức kinh tế, tiêu chuẩn kỹ thuật,… thì xuất hiện nhiều vấn đề mới như:

– các hình thức đầu tư =  tương đương vấn đề thuê dịch vụ CNTT trong lĩnh vực CNTT;

– vấn đề quản lý giám sát việc thực thi tuân thủ pháp luật;

– đánh giá hiệu quả đầu tư;

– giảm thiểu tai nạn giao thông;

– các hình thức, phương tiện giao thông khác (tàu điện trên cao, xe buýt nhanh, tàu điện ngầm, cầu vượt,…);

– …

Trong tất cả các vấn đề/thách thức đặt ra đối với lĩnh vực Giao thông vận tải thì yếu tố công nghệ đóng vai trò cốt yếu để giải quyết. Và nhìn rộng ra, không chỉ riêng lĩnh vực Giao thông vận tải, hầu hết các thách thức đặt ra cho công tác QLNN trong giai đoạn này đều liên quan đến việc áp dụng công nghệ. Hay nói một cách hoa mỹ và hợp xu thế hơn: “Trong giai đoạn bước vào cuộc CMCN lần thứ 4, công tác QLNN sẽ gặp rất nhiều thách thức mà các Chính phủ sẽ buộc phải thay đổi quan điểm và cách thức của mình để thích ứng”. Việt Nam sẽ không thể đón đầu hay đi trước trong Cuộc CMCN lần thứ 4 này như những ‘triết gia’ vẫn hay phát ngôn trên báo chí. Nếu ví cuộc CMCN lần thứ 4 như một chuyến tàu, Việt nam cần sớm chuẩn bị nhưng không phải là người lái tàu hay là một hành khách hạng sang; nếu cố gắng Việt Nam sẽ lên kịp chuyến tàu và xin được 1 công việc như đứng quầy bar hoặc phục vụ ở khoang hạng sang nào đó. Như vậy còn tốt hơn rất nhiều là vẫn cứ mãi ngồi ở ga và bán trà đá dạo.

Như vậy có thể thấy, đối với lĩnh vực Giao thông vận tải cần xác định những hệ thống thu phí không dừng, những hệ thống camera giám sát tự động đếm và nhận dạng biển số xe, những CSDL về tai nạn, về người lái xe,… sẽ là một trong những vấn đề rất quan trọng đối với ngành của mình trong thời gian tới (chứ không phải là việc của ngành CNTT) và tương tự đối với các ngành khác. Đây không phải chỉ đơn thuần là một công cụ, một hạng mục cần đầu tư trong 1 dự án lớn,… cần phải xác định đây là một phương thức QLNN mới bắt buộc phải triển khai để đáp ứng tình hình hiện tại.

Vậy ngành CNTT cần làm gì khi ứng dụng CNTT trong mỗi lĩnh vực lại phụ thuộc về các Bộ ngành khác nhau. Giai đoạn trước, việc đầu tư ƯD CNTT khá dàn trải do đặc thù digital gap đã nêu ở trên, các văn bản hướng dẫn, tiêu chuẩn, quy chuẩn được ban hành phải phù hợp cho mọi loại đối tượng, tổ chức khác nhau. Đến nay các thách thức đặt ra đối với ngành CNTT cũng tương tự như các ngành khác, nhưng ở một mức độ nhanh hơn nhiều. Ngành CNTT cũng sẽ cần phải có những hệ thống camera giám sát, cần phải có những hệ thống CSDL riêng của ngành, những hệ thống phần mềm sản xuất ra muốn được ứng dụng trong CQNN cũng cần phải bắt buộc cung cấp được những số liệu tối thiểu phục vụ công tác QLNN như những hộp đen bắt buộc phải lắp vào xe bus, xe taxi và các phương tiện vận tải….

Trong lĩnh vực CNTT, mỗi quyết định trong công tác QLNN sẽ nhanh chóng dẫn đến các hệ quả tiếp theo, chính vì vậy công tác giám sát càng phải được chú trọng để luôn bám sát và sớm có những điều chỉnh thích hợp để đảm bảo hiệu quả công việc. Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện tại, việc kiểm tra, giám sát, đánh giá, thống kê, báo cáo vẫn thông qua giấy tờ và bằng đường công văn.

Ngành CNTT cũng cần phải tự xác định cho mình các công cụ hỗ trợ sẽ không chỉ đơn thuần là một phần mềm, một hạng mục trong dự án. Đây phải được xác định là một trong những phương thức QLNN quan trọng trong giai đoạn tiếp theo.

(rgv07032018)