Công nghiệp điện tử và khối FDI

Vài năm trở lại đây nhóm ngành công nghiệp điện tử luôn nằm trong top những ngành xuất khẩu chủ lực và thường đứng đầu về kim ngạch xuất khẩu. Theo báo cáo mới đây của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), 95% kim ngạch xuất khẩu nhóm ngành điện tử là khu vực doanh nghiệp FDI, trong số 100 doanh nghiệp điện tử lớn của Việt Nam có tới 99 là doanh nghiệp FDI. Doanh nghiệp Việt Nam duy nhất lọt top này là 1 DNNN và đứng vị trí thứ 100. Việc sản xuất điện tử với chi phí cận biên thấp thường tập trung ở những quốc gia có lợi thế về chi phí lao động thấp. Đây cũng là một trong những lý do khiến Việt Nam đang trở thành 1 trong những nước “công xưởng thế giới” (theo Bloomberg).

Hiệp hội DN Điện tử Việt Nam (VEIA), cho biết hầu hết doanh nghiệp trong công nghiệp phụ trợ ngành điện tử là doanh nghiệp FDI trong chuỗi cung ứng sẵn có của các nhà sản xuất. Rất ít doanh nghiệp Việt Nam cung cấp được linh kiện và dịch vụ cho doanh nghiệp FDI tại Việt Nam. Công nghiệp điện tử Việt Nam hầu như chưa đáp ứng được nhu cầu của các nhà sản xuất. Chính vì vậy, giá trị gia tăng nội địa của công nghiệp điện tử Việt Nam vẫn thấp khi so sánh với các nước khác trên thế giới.

Hiện nay những doanh nghiệp Việt Nam cung ứng nguyên liệu cho Samsung chỉ là những nhà cung ứng nguyên liệu rất nhỏ, như nhựa, bao bì. Rất ít doanh nghiệp tham gia được vào chuỗi giá trị của họ bởi lẽ khả năng thích ứng của DN Việt Nam với sản xuất của Samsung rất khó, khi cứ khoảng 3-4 tháng họ lại tung ra sản phẩm mới. Những sản phẩm công nghệ cao như điện thoại thông minh, sản phẩm liên tục thay đổi, doanh nghiệp chúng ta khó có thể đầu tư, thay đổi công nghệ theo họ được.

Một số thách thức đặt ra:

  • Nhân lực làm việc trong các nhà máy FDI hầu hết là công nhân có tay nghề thấp, làm công việc chân tay thuần túy và chỉ tham gia vào 1 công đoạn rất nhỏ. Chính vì vậy khi vượt quá độ tuổi 30, hoặc không thể cạnh tranh được với lứa công nhân trẻ hơn, hoặc chính doanh nghiệp FDI sa thải để tránh những rắc rối không cần thiết khi quản lý con người. Khi đó lực lượng này cũng khó có có thể tìm được việc làm thích hợp.
  • Thông thường sau thời gian ưu đãi 10-15 năm, doanh nghiệp điện tử FDI sẽ xin kéo dài thời gian ưu đãi, nếu không được đáp ứng sẽ tìm 1 quốc gia phù hợp hơn để dịch chuyển, khi đó sẽ cắt giảm sản lượng và nhân lực. Lúc đó 1 lượng lớn nhân lực trình độ thấp sẽ là 1 gánh nặng xã hội to lớn. Hiện nay tổng số nhân công của các nhà máy Samsung khoảng 120.000 người, chưa tính đến số lượng tuyển dụng và sa thải hàng tháng.
  • Các doanh nghiệp FDI phần lớn đẩy trách nhiệm xử lý rác thải sang cho đối tác nội địa. Trong khi đó đối tác nội địa có thể là các ‘sân sau’ hoặc không thực sự làm việc nghiêm túc nên vấn đề môi trường đáng lo ngại sau thời gian dài hoạt động.

Thu hút đầu tư FDI là một định hướng đúng đắn tuy nhiên xác định công nghiệp điện tử là mũi nhọn cần tập trung phát triển hay không thì cần phải cân nhắc!

Dịch vụ CNTT và nội dung số:

Lĩnh vực dịch vụ CNTT và nội dung số thực sự mới phát triển bùng nổ trong một vài năm gần đây khi hạ tầng viễn thông phát triển mạnh cùng với sự phổ biến của các thiết bị thông minh. Dịch vụ CNTT và nội dung số là rất tiềm năng, sẽ bùng nổ trong thời gian tới và phù hợp với định hướng phát triển của Việt Nam.

Trước tiên, điều kiện cần cho lĩnh vực này Việt Nam đã có: hạ tầng viễn thông, sự phổ cập của Internet và thói quen sử dụng các thiết bị thông minh. Tiếp đó sự phát triển và phổ biến các nền tảng của các hãng công nghệ lớn trên thế giới như Google, Facebook, Apple đã mang đến cơ hội cho nhân lực nội dung số tại Việt Nam, đó là cơ hội tiếp cận hàng tỷ người dùng trên khắp thế giới thay vì chỉ giới hạn ở 40 triệu người Việt Nam. Một số doanh nghiệp trẻ, nhóm lập trình viên đã nhanh chóng nắm bắt, tiếp cận xu thế và có những thành công nhất định, thậm chí ghi tên trên bản đồ CNTT thế giới như: Flappy bird, Misfit, GotIt, … Những hình tượng này đã góp phần cổ vũ và tiếp sức cho các nhân lực nội dung số hiện nay.

Nhưng ngược lại, khi doanh nghiệp Việt có cơ hội tiếp cận hàng tỷ người dùng trên thế giới thì các doanh nghiệp quốc tế lại dễ dàng từ xa tiếp cận người dùng Việt Nam mà không cần phải thật sự bước chân vào hay tuân thủ các quy định của chính phủ. Lĩnh vực này thực sự cạnh tranh khốc liệt kể cả đối với thị trường quốc tế hay nội địa nhưng việc cạnh tranh này sẽ chỉ góp phần làm doanh nghiệp và thị trường nội địa trưởng thành hơn mà thôi.

Việc đầu tư trong lĩnh vực dịch vụ CNTT và nội dung số khá đơn giản và không hề tốn kém: giai đoạn đầu chủ yếu đầu tư vào con người và thăm dò thị trường; tiếp đó vốn đầu tư sẽ tập trung chủ yếu vào việc mở rộng quy mô (scale up) về con người và chiếm lĩnh thị trường. Tuy nhiên đặc thù của lĩnh vực này là khá rủi ro khi sản phẩm/dịch vụ không được thị trường đón nhận.

Tại sao thời gian trước Việt Nam khó có sản phẩm/dịch vụ nào có tiếng trên thế giới?

Một trong những lý do chính là doanh nghiệp công nghệ Việt hầu hết đều phát triển từ bước đi đầu tiên và trưởng thành dựa vào chính kinh nghiệm/thất bại của mình do đó không thể có những bước bứt phá nhanh chóng. Tương tự đối với nhân sự trong lĩnh vực này: những người được đào tạo và làm việc trong nước thì không có cơ hội tiếp cận với những hệ thống lớn; có những người Việt rất giỏi làm cho các hãng công nghệ lớn trên thế giới, nhưng tại Việt Nam lại chưa có doanh nghiệp nào đủ hấp dẫn để mời được những người như vậy làm việc (mức lương, tầm nhìn của doanh nghiệp, bộ khung nhân sự để đảm bảo thành công,…).

Để có thể nhanh chóng thúc đẩy mức độ trưởng thành, tăng cường năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt thì các thương vụ M&A, các thương vụ đầu tư từ các quỹ đầu tư rủi ro là phương án nhanh nhất. Một vài năm gần đây, Việt Nam đã chứng kiến 1 số thường vụ M&A hoặc đầu tư trong lĩnh vực thương mại điện tử ở mức vài chục triệu USD. Cho dù các thương vụ đó thành công hay thất bại thì ít nhất cũng góp phần tạo dựng thói quen mua sắm online, đào tạo và xây dựng được đội ngũ marketing, đội ngũ công nghệ,… có khả năng làm ra và vận hành hệ thống TMĐT phục vụ hàng triệu người. Nhờ những khoản đầu tư này mà nhân sự tại Việt Nam nhanh chóng có được cơ hội làm việc với nhân sự quốc tế, tiếp cận tri thức ở quy mô toàn cầu. Đây chính là giá trị thặng dư mà lĩnh vực dịch vụ CNTT và nội dung số mang lại.

Như vậy có thể nói phương án thúc đẩy lĩnh vực dịch vụ CNTT và nội dung số nhanh nhất đó là tạo điều kiện cho các thương vụ M&A và các quỹ đầu tư mạo hiểm vào Việt Nam. Rất nhiều thị trường nội dung số đã trưởng thành và phát triển rất nhanh nhờ vào cách thức như vậy, ví dụ thị trường Indonesia hiện nay đã có những thương vụ đầu tư hàng trăm triệu USD, thủ tục đầu tư nhanh chóng và đơn giản. Theo thống kê, trong quý II 2017, ngành công nghệ ở Đông Nam Á được tài trợ mạnh nhất về cả khối lượng giao dịch và tổng giá trị thỏa thuận, trong đó phần lớn là Grab(của Malaysia) và Go-Jek(của Indonesia) giành được. Grab chốt 2 tỷ USD Series G vào tháng 7 còn Go-Jek có 1,2 tỷ USD Series C hồi tháng 5. Các giao dịch đáng chú ý khác bao gồm 550 triệu USD Series E vào công ty khởi nghiệp game của Singapore và Traveloka của Indonesia tăng 500 triệu USD từ các nhà đầu tư (có cả Expedia).

Tóm lại, Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang dần hiện hữu. Việt Nam sẽ sẵn sàng đón nhận làn sóng này thế nào sẽ phụ thuộc chính vào các chính sách để phát triển nguồn nhân lực số. Công nghiệp điện tử hay công nghiệp nội dung số, chúng ta chỉ có thể chọn 1 trong 2 để tập trung phát triển!

(Canh-2017)