Những doanh nghiệp như FPT, Vietsoftware, Tinh Vân sẽ không là đối tượng được bàn ở đây do thiếu yếu tố đột phá cao và tính sáng tạo mặc dù thời đó họ là những doanh nghiệp đi đầu và lớn nhất thị trường.

Startup tại Việt Nam nhen nhóm từ khi Internet băng rộng ADSL bắt đầu phát triển tại Việt Nam. Thế giới phẳng hơn, lớp trẻ một phần du học, một phần tiếp cận được trào lưu IT thế giới đã nhanh chóng bắt kịp xu thế công nghệ, lập tức mở doanh nghiệp và kinh doanh thành công nhờ đi đầu tại thị trường con sơ khai trong nước hoặc bắt kịp xu thế thế giới. Những ông chủ doanh nghiệp này tích lũy được số vốn khá (khoảng vài triệu đến chục triệu $) cùng với kinh nghiệm chinh chiến trên thị trường đã bắt đầu ý thức về việc tái đầu tư sang các mảng khác. Cùng thời điểm đó các quỹ đầu tư nước ngoài (như IDG) bắt đầu nhảy vào Việt Nam và đầu tư vào một số doanh nghiệp công nghệ. Hai doanh nghiệp kỳ cựu có thể kể tên đó là VNG (tiền thân là Vinagame) và VCCorp và hiện nay cũng là 02 doanh nghiệp Internet lớn nhất Việt Nam. Tuy nhiên thời đó các doanh nghiệp thành đạt còn đếm trên đầu ngón tay và thuật ngữ Startup chưa được đề cập nhiều.

Chỉ đến khi các doanh nhân thành đạt này và các quỹ đầu tư mạo hiểm tích cực hơn nữa trong việc tìm kiếm ý tưởng để đầu tư thì các hoạt động thúc đẩy trào lưu startup mới được thổi bùng lên một mức độ mới. Các báo công nghệ liên tục đưa về các tấm gương thành công, các ý tưởng hình thành, các case study đầu tư; cuốn sách Quốc gia khởi nghiệp được dịch sang tiếng Việt; các hoạt động kết nối đầu tư liên tục được tổ chức. Đến năm 2015, những nhà khởi nghiệp trẻ tuổi đã tập hợp lại thành nhóm trên Facebook và chắp nối tổ chức gặp gỡ Phó thủ tướng Vũ Đức Đam, sau đó các hoạt động Startup được đẩy mạnh trong cả cộng đồng lẫn trong khối CQNN. Bắt đầu nhiệm kỳ của mình, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng có những hoạt động tỏ rõ quyết tâm thúc đẩy sự phát triển của khối doanh nghiệp tư nhân trong đó các doanh nghiệp startup là một phần trong kế hoạch này.

Sau đó, cộng đồng startup liên tục tổ chức các buổi gặp gỡ, hội thảo giới thiệu, làm quen, truyền đạt kinh nghiệm, kết nối hỗ trợ đầu tư. Các doanh nhân trẻ thành đạt liên tục thảo luận và rót tiền đầu tư vào các ý tưởng, đồng thời xây dựng các khu vực làm việc tập trung co-working space. Thực chất các hoạt động này xuất phát từ mục tiêu kinh doanh: đối với Angel Investor nhằm tìm kiếm ý tưởng, con người để đầu tư rồi bán lại cổ phần; với các bạn trẻ có ý tưởng thì mong muốn tìm được nguồn vốn để hiện thực hóa ý tưởng của mình.

Launch 2016-06-07 22-17-38Cộng đồng Launch trên Facebook với hơn 25 ngàn thành viên

UP Co-working Space và TOONG Co-working space là 2 địa điểm có không gian mở thu hút cộng đồng công nghệ đến làm việc và trao đổi. Tại địa điểm này các bạn trẻ đam mê công nghệ, mong muốn khởi nghiệp có thể đến làm việc 24/7 với một mức chi phí khá rẻ. Ngoài ra tại địa điểm này liên tục tổ chức các buổi nói chuyện, trao đổi về các chủ đề khác nhau, mời những tượng đài công nghệ một thời tham gia. Chủ nhân của các địa điểm này chính là các Angel Investor và cũng là CEO thành đạt. Có lẽ mục đích chính bên cạnh việc truyền bá, thúc đẩy trào lưu startup thì các Investor này cũng mong muốn tìm được ý tưởng, con người để đầu tư mở rộng kinh doanh của mình hoặc thông qua các kết nối tăng cường được các mối quan hệ.

Năm 2015 được đánh giá là khá thành công với doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam khi mà cộng đồng này đã thực sự dần lớn mạnh, huy động được nguồn vốn hàng chục triệu USD từ các quỹ đầu tư lớn trên thế giới. Theo báo cáo của Topica Founder Institue (TFI), năm qua chứng kiến ít nhất 67 thương vụ đầu tư vào lĩnh vực này, trong khi con số này chỉ được tính trên đầu ngón tay vào thời điểm cách đây 5 năm.

Startup Vietnam 2015
Startup Việt Nam năm 2015 chứng kiến 67 thương vụ đầu tư và M&A (Theo Topica Institute Founder)

Quốc gia 90 triệu dân, gần 40 triệu người dùng Internet, một thị trường rộng lớn với nhu cầu cao,… Đây có thể là 1 điều kiện cần cho các startups có thể bùng nổ tại Việt Nam. Tuy nhiên, để startups phát triển được còn rất nhiều điều đáng nói.

Khi trào lưu khởi nghiệp nở rộ, người ta nhận thấy những người sáng lập (founder) tại Việt Nam rất thiếu kỹ năng. Họ đa phần chưa có góc nhìn về kinh doanh, nên chưa có cái nhìn thấu đáo. Thông thường, các founder biết về công nghệ thì không có khả năng bán hàng, không biết về marketing. Ngược lại, những người biết làm marketing lại không biết gì về công nghệ.

Trong khi đó, ở những quốc gia mà startup phát triển mạnh mẽ, như Mỹ, những người khởi nghiệp đa phần đều có kinh nghiệm làm việc tại các công ty lớn. Môi trường ở các công ty này giúp họ hiểu một công ty vận hành như thế nào. Sau quá trình trải nghiệm thực tế tại công ty đó, những founder Mỹ cũng đã có khá nhiều kỹ năng.

Trái lại ở Việt Nam, cơ hội va chạm nhìn thực tế sản phẩm, triển khai sản phẩm không có nhiều. Vì vậy không lạ nếu các founder Việt Nam mang trong mình suy nghĩ có phần “ảo tưởng”.

Vấn đề thứ hai đó là vấn đề vốn. Ở thung lũng Silicon, nơi đã có rất nhiều Startup thành công và quay trở lại hỗ trợ ngược những startup mới bắt đầu, không khó để tìm kiếm những nhà đầu tư thiên thần. Đó là những nhà đầu tư hiểu khách hàng, hiểu thị trường, hiểu vấn đề của startup, chịu lắng nghe startup và biết đâu là vấn đề thực tế. Ở Việt Nam thì rất khó để tìm kiếm những nhà đầu tư như vậy.

Thị trường Việt Nam từ trước đến nay phát triển chủ yếu là thị trường bất động sản, thị trường tài chính, thị trường tài nguyên. Những doanh nhân thành công ở thế hệ trước này có cái nhìn rất khác. Họ không nắm rõ về khởi nghiệp, họ không thể đầu tư vào một doanh nghiệp mới chỉ dừng lại ở “tiềm năng, ý tưởng” mà lại được định giá trên trời. Đối với doanh nghiệp thế hệ trước, khi xây một tòa nhà, đầu tư vào dự án bất động sản cho thấy dòng tiền, doanh thu ngay thì startup là một khái niệm mơ hồ. Thêm vào đó, những DN này đều là những người gạo cội trong lĩnh vực của họ, nhiều quan hệ trong lĩnh vực bất động sản, ngân hàng, tài chính hơn.

Về các quỹ đầu tư, đây cũng có thể coi là vấn đề khó khăn nhất cho startup tại Việt Nam. Hiện nay, trước làn sóng khởi nghiệp, đã có một số quỹ đầu tư tham gia vào các startup tại Việt Nam, cả trong và ngoài nước như IDT (Việt Nam), Cyber Agent(Nhật Bản), Golden Gate (Singapore), IDG, 500 Startup (Mỹ),… Tuy nhiên, nhìn chung thì số lượng quỹ đầu tư chưa nhiều và số tiền bỏ ra cho các startup Việt Nam cũng vẫn hạn chế. Việc không thể tiếp cận nguồn vốn ảnh hưởng rất lớn tới việc duy trì hoạt động của startup. Đây cũng là điều dễ hiểu khi khả năng thoái vốn khỏi các startup Việt hiện nay là gần như bằng không.

Một quỹ đầu tư khi tham gia vào bất kỳ dự án nào luôn có kế hoạch rút vốn. Họ có thể đầu tư vào một doanh nghiệp trong dài hạn như 5 năm hay 7 năm, nhưng mục đích cuối cùng vẫn là thoái vốn. Tuy nhiên, tại Việt Nam có rất ít khoản đầu tư vào công ty công nghệ mà các quỹ đầu tư có thể rút tiền ra.

Trên thế giới, cách đơn giản nhất để thu hồi tiền về đó là IPO startup. Tuy nhiên, tại Việt Nam, chưa có công ty công nghệ nào IPO, kể cả với những công ty được xem là thành công.

Với hai hạn chế rất lớn trên của startup Việt, dù thị trường có tiềm năng phát triển tới đâu, cũng rất khó để startup Việt Nam nghĩ rằng mình có thể phát triển như startup tại Mỹ.

Startup công nghệ tập trung vào lĩnh vực Internet, thị trường ứng dụng trên di động, thị trường phần mềm vẫn có cơ hội phát triển. Đây là thị trường không cần nhiều vốn, rộng lớn và có thể thấy được dòng tiền ngay. Thực tế cũng đã chứng minh một số công ty công nghệ thành công như JoomlArt đã đủ sức làm việc cho cả thị trường nước ngoài.

Một số case điển hình về Startup của người Việt:

trang_and_sonny[1]Vợ chồng Vũ Xuân Sơn –  Lê Diệp Kiều Trang – Misfit: Sonny Vu (Vũ Xuân Sơn) sinh năm 1973 tại Việt Nam và sang Mỹ định cư vào năm 1979 học tại MIT. Lê Diệp Kiều Trang sinh ra trong gia đình khá giả tại Sài Gòn (bố Trang giữ chức vụ PTGĐ Casumina, anh trai Trang là PTGĐ NH Đông Á) học tại Oxford (UK). Trang đã rời bỏ UK để theo Sơn định cư tại Mỹ và cùng phát triển doanh nghiệp Misfit, sản xuất sản phẩn đeo trên người nhằm cung cấp thông tin về sức khỏe. Nhóm R&D về phần mềm được mở tại TP HCM với khoảng 200 nhân viên. Misfit đã đón nhận nhiều khoản đầu tư và gần đây nhất tháng 11/2015 đã được Fossil mua lại với giá gần $260 triệu. Đây có thể coi là startup thành công nhất của người Việt trên thế giới.

Đỗ Hoài NamĐỗ Hoài Nam (Namster) – Emotiv, In Air: sinh năm 1977, du học tại Úc và thành lập công ty SASme chuyên về nền tảng gửi nhận SMS qua giao thức SMPP. Năm 2003 bán lại công ty và thành lập Emotiv cùng vài người bạn chuyên về thiết bị đọc sóng não. Tuy nhiên sau đó Nam đã rút khỏi công ty, chuyển sang Mỹ và thành lập SeeSpace với sản phẩm InAir một sản phẩm Augmented Tivi – cung cấp thông tin trực tiếp liên quan đến những gì đang chiếu trên tivi. Sản phẩm được đội ngũ phát triển tại Hà Nội và gọi vốn crowdfunding thông qua KickStarter. Tuy nhiên sau đó sản phẩm này gặp phải khá nhiều tai tiếng và phàn nàn từ những người góp tiền trên Kickstarter. Đến nay sản phẩm này không còn tin tức gì. Nam quay trở lại Việt Nam, thổi bùng trào lưu startup bằng việc chắp nối với PTT Vũ Đức Đam, kết nối cộng đồng startup, thành lập Up co-working space, đầu tư vào hàng loạt công ty trong đó có hdviet và nhiều website xem phim khác (chiếm 40%). Nam và Bí thư tỉnh Kiên Giang Nguyễn Thanh Nghị là hai anh em đồng hao. Hiện nay Nam đã chuyển hẳn về Việt Nam

Đinh Việt Hùng JoomlartĐinh Việt Hung – Joomlart: Sinh năm 1981, năm 2006 bỏ việc ở 1 công ty dầu khí với mức lương  $5000 để mở doanh nghiệp Joom Solutions chuyên cung cấp mẫu website (website template). Thị trường của joomlart.com là thị trường toàn cầu, thu mức phí người dùng mỗi năm khoảng gần $100, tuy nhiên với dịch vụ được đánh giá hàng đầu thế giới, lượng người dùng khá lớn đã mang lại cho JOOM nguồn thu đều đặn. Trong vài năm gần đây, Hùng đã tham gia nhiều cộng đồng startup Việt Nam và quốc tế, tham gia đầu tư nhiều startup khác nhau.

Trần Việt HùngTrần Việt Hùng – GotIt: Trần Việt Hùng, cựu sinh viên Bách Khoa Hà Nội, Tiến sỹ du học qua quỹ VEF. Hùng sáng lập hệ thống gia sư trực tuyến Tutor Universe trên nền tảng web nhằm kết nối gia sư và học viên. Sau đó Hùng tiếp tục xin vào Vườn ươm – Incubator Youweb của Peter Relan và đón nhận khoản seeding đầu tiên khoảng $120K cho sản phẩm GotIt-cũng là hệ thống gia sư/học viên nhưng trên nền tảng mobile. Gần đây nhất vào đầu năm 2016, GotIt đã được rót thêm $9 triệu và ứng dụng GotIt nằm trong Top đứng đầu ứng dụng giáo dục được tải về. Hùng đã mở văn phòng GotIt tại Hà Nội và tuyển dụng những người xuất sắc trong các mảng về làm cho mình.

Trần Ngọc Thái SơnTrần Ngọc Thái Sơn – Tiki: du học sinh tại Úc, chuyên ngành Thương mại điện tử, trở về VN thành lập Tiki, bắt đầu bằng việc bán sách online giống mô hình Amazon. Tiki tập trung vào thế mạnh công nghệ nhằm giải quyết các bài toán TMĐT. Tiki được Cyber Agent Venture đầu tư, sau đó là Sumitomo. Đầu năm 2016, Tiki được VNG rót thêm $18 triệu.

Đặng Hoàng MinhĐặng Hoàng Minh – Foody: sinh năm 1984, học chuyên ngành CNTT tại Úc. Sau khi chia tay bạn gái, Minh lao vào kinh doanh và thiết lập 2 website vnNhahang.com và Orderfood.vn nhưng nhanh chóng nhìn thấy sự thất bại. Chuyển sang thành lập Foody, trang mạng xã hội chia sẻ địa điểm ăn uống, giải trí, Foody nhận được đầu tư từ Cyber Agent Venture, tiếp đó từ Pix Vine Capital, quỹ đầu tư Garena Singapore và gần đây nhất là quỹ đầu tư từ Mỹ Tiger Global Investment nhằm mở rộng lĩnh vực khác và thị trường Indonesia.

Phạm Thành ĐứcPhạm Thành Đức – Momo: Phạm Thành Đức sinh năm 1978, sinh viên Ngoại Thương Hà Nội nhưng anh đi làm từ rất sớm tại FPT dưới quyền của Trương Đình Anh. Ông từng giữ chức Phó TGĐ FTel, nhưng sau đó khi Trương Đình Anh rời FPT, anh đã gia nhập và khởi nghiệp cùng Momo – ví điện tử. Được biết Momo ban đầu được seed bởi 1 nhóm nhỏ các nhà đầu tư cá nhân. Momo nhanh chóng mở rộng thị trường và đạt 1 triệu người dùng trong 1 năm đầu hoạt động. Gần đây nhất Momo nhận được $28 triệu từ Standard Chartered Private Equity và Goldman Sachs. Được biết mô hình của Momo rất dễ dàng mở rộng và triển khai tại các quốc gia khác, có lẽ đây chính là lý do Momo nhận được khoản đầu tư lớn này.

Khởi nghiệp (startup) tại Việt Nam – Phần 3 Startup Việt cần gì từ CQNN?